Đánh giá tác động

Dự án Quỹ Tiên phong Việt Nam tổng kết hoạt động từ tháng 6/2010, tác động tích cực từ dự án đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sẽ còn tiếp tục. Các hoạt động đánh giá tác động dự án đã được các chuyên gia độc lập tiến hành và cho một số kết quả tích cực theo các mục tiêu của dự án, tác động tới phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, tạo việc làm và xóa đói giảm nghèo tại vùng khó khăn, cơ chế, chính sách của Nhà nước, thay đổi tư duy và phương thức quản lý tại địa phương. 

 

TÓM TẮT BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC DỰ ÁN VNCF

 

Trong khuôn khổ triển khai các hoạt động của Quỹ Tiên phong Việt Nam (VNCF) nhằm tạo việc làm và phát triển kinh tế, nhất là đối với các vùng sâu, vùng xa tại 04 tỉnh phía Bắc Việt Nam và đẩy mạnh sự tham gia của khu vực doanh nghiệp vào các mục tiêu phát triển kinh tế mới và sáng tạo, tạo việc làm và giảm nghèo, 6 dự án trong khuôn khổ tài trợ của VNCF đã được triển khai là:

 

  •  Dự án 1: Đầu tư trồng và chế biến bạch đàn chanh tại xã Trường Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang - Ứng viên thực hiện: Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Tiến Việt
  • Dự án 2: Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, nhà xưởng tại Trung tâm dạy nghề Mạnh Hùng - Chi nhánh của Công ty TNHH Thương mại Hùng Hiệp (Tập trung vào địa bàn huyện Lục Nam rồi đến các huyện khác trên địa bàn tỉnh Bắc Giang - Ứng viên thực hiện: Công ty TNHH Thương mại Hùng Hiệp
  • Dự án 3: Xây dựng vùng Sinh thái Chè - Rừng - Gà và Nhà máy Chế biến nông sản tại xã Xuân Lương, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang - Ứng viên thực hiện: Công ty TNHH Hiệp Thành
  • Dự án 4: Sinh sản tự nhiên, nuôi, lưu giữ giống, phục hồi, tái tạo, bảo vệ và phát triển bền vững nguồn lợi sá sùng (Phascolosoma Esculenta) - loài thủy sản quý hiếm có giá trị kinh tế cao, đang có nguy cơ tuyệt chủng tại vùng biển huyện Đầm Hà - Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh - Ứng viên thực hiện: Công ty Cổ phần đầu tư phát triển (ĐTPT) Đại Dương Xanh
  • Dự án 5: Đầu tư mở rộng sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, thu hút lao động nông nhàn trên địa bàn xã Quảng Phong, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa - Ứng viên thực hiện: Doanh nghiệp Tư nhân Duy Hải
  • Dự án 6: Đầu tư trồng rừng kinh tế và trồng xen canh sắn cao sản tại khu vực Khe Bòng - Khe Tùng, thôn 3b, xã Việt Cường và khu vực Đá Gai, thôn Khe Ba, xã Kiên Thành, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái - Ứng viên thực hiện: Doanh nghiệp tư nhân dịch vụ sản xuất trồng rừng (DVSXTR) 327, Tổ 7, Thị trấn Yên Bình, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái

 

Đánh giá tổng quan kết quả các dự án VNCF sau 1 năm kết thúc tài trợ. So sánh các kết quả thực tế đạt được với tiêu chuẩn lựa chọn dự án của VNCF, so với mục tiêu đề xuất dự án ban đầu

Nhìn chung, kết quả thực tế của các dự án VNCF đều đạt được đúng mục tiêu của VNCF là thúc đẩy sự tham gia của khu vực doanh nghiệp đảm nhiệm những hoạt động sản xuất - kinh doanh mang yếu tố mới, sáng tạo theo định hướng thị trường, trực tiếp đóng góp cho sự phát triển kinh tế - xã hội và hướng tới mục tiêu giảm nghèo của địa phương.

  • Cả 6 dự án đều dóng góp trực tiếp hay gián tiếp nâng cao thu nhập, sinh kế và cơ hội việc làm cho người nghèo.
  • Sản phẩm, dịch vụ, hệ thống hoặc quy trình có tính sáng tạo và thường không được khu vực tư nhân thực hiện nếu thiếu sự hỗ trợ của VNCF, thể hiện rõ rệt nhất là Dự án do Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Tiến Việt, Công ty Cổ phần ĐTPT Đại Dương Xanh thực hiện.
  • Tính bền vững và tính cạnh tranh được nâng cao sau khi tài trợ của VNCF đã được sử dụng hết. Các dự án có tác dụng tạo đà khuyến khích đầu tư hoặc phương thức kinh doanh mới có sự tham gia của người nghèo
  • Cả 6 dự án không tạo ra cạnh tranh không lành mạnh hoặc dẫn đến bóp méo thị trường.
  • Cả 6 dự án đều đã ưu tiên hướng đến đối tượng yếu thế (dân tộc thiểu số, phụ nữ nghèo, người khuyết tật, v.v..)
  • Cả 6 dự án do các ứng viên thực hiện đều đã đạt kết quả tốt sau 1 năm kết thúc tài trợ, đều đã đạt đúng mục tiêu đề xuất dự án ban đầu.

Trong quá trình thực hiện các dự án VNCF, nhìn chung, các doanh nghiệp đã thực hiện tốt việc phối hợp giữa doanh nghiệp là ứng viên thực hiện dự án với Ban QLDA của EDF, chính quyền, các đoàn thể xã hội/quần chúng và nhân dân địa phương. Thực hiện tốt việc theo dõi và đánh giá việc thực hiện dự án, thực hiện các báo cáo hàng quý đều đặn. Các báo cáo định kỳ của các ứng viên thực hiện dự án đảm bảo đầy đủ về: Tiến độ công việc so với dự kiến, mục tiêu và các chỉ số, Các vấn đề và trục trặc phát sinh và phương hướng giải quyết, Kế hoạch cho quý tiếp theo cùng với những xét duyệt dự kiến, Duyệt lại ngân sách nếu cần thiết,…

 

Tính sáng tạo của các dự án VNCF

Trong quá trình thực hiện các dự án VNCF, các doanh nghiệp đều thể hiện tính sáng tạo, tuy nhiên mức độ không đều nhau. Đánh giá theo mức độ so sánh tương đối giữa 6 dự án, chúng tôi thấy có thể xếp hạng thành 3 nhóm như sau:

  • Tính sáng tạo cao nhất: Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Tiến Việt, Doanh nghiệp tư nhân DVSXTR 327.
  • Tính sáng tạo cao: Công ty TNHH Hiệp Thành, Công ty cổ phần ĐTPT Đại Dương Xanh.
  • Tính sáng tạo vừa: Công ty TNHH Thương mại Hùng Hiệp, Doanh nghiệp Tư nhân Duy Hải.

 

Khó khăn, tồn tại trong quá trình thực hiện và duy trì kết quả các dự án VNCF : Trong quá trình thực hiện các dự án, các doanh nghiệp – những ứng viên thực hiện các dự án VNCF, đã gặp phải các khó khăn, tồn tại nhất định.

Về phần chủ quan các doanh nghiệp:

  •  Năng lực quản lý dự án của doanh nghiệp chưa cao, nhiều hoạt động phải kéo dài ảnh hưởng đến tiến độ dự án.
  • Giám sát những cam kết của doanh nghiệp nhận tài trợ sau khi kết thúc tài trợ.

Một số yếu tố khách quan:

  • Rủi ro về môi trường làm ảnh hưởng đến kết quả thực hiện dự án (1 dự án phải ngừng tài trợ vì gặp phải ô nhiễm về môi trường nuôi trồng thủy sản).
  • Thiên tai: các đợt rét bất thường và kéo dài làm chậm tốc độ phát triển của giống cây trồng, ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện dự án.
  • Hạ tầng kỹ thuật: Việc bị cắt điện đột xuất ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
  • Khủng hoảng kinh tế: một số doanh nghiệp gặp khó khăn về vốn đối ứng thực hiện dự án, buộc phải thu nhỏ quy mô hoặc rút khỏi dự án VNCF.
  • Việc giảm chất lượng và làm chậm tiến độ thực hiện dự án so với yêu cầu thường gây ra bởi các lý do sau:
  • Năng lực quản lý và điều hành của các doanh nghiệp còn hạn chế (báo cáo tài chính, báo cáo kết quả hoạt động thường bị chậm làm ảnh hưởng đến tiến độ giải ngân)
  • Hạn chế về thông tin liên lạc do nhiều ứng viên thực hiện dự án VNCF ở vùng sâu, vùng xa, thiếu các phương tiện liên lạc như e-mail, máy fax,…

 

Tác động của dự án VNCF đối với phát triển kinh tế - xã hội,  bảo vệ môi trường, sinh thái, tạo việc làm và xóa đói giảm nghèo tại vùng khó khăn , cơ chế, chính sách của Nhà nước, thay đổi tư duy và phương thức quản lý các cấp chính quyền

Tác động của các dự án VNCF đối với phát triển kinh tế tại vùng khó khăn, tạo việc làm và góp phần xóa đói giảm nghèo

Các dự án VNCF có tác động tốt đối với phát triển kinh tế tại vùng khó khăn, tạo việc làm và góp phần xóa đói giảm nghèo thông qua hỗ trợ doanh nghiệp, cụ thể là:

  • Góp phần tăng thu ngân sách cho địa phương, thông qua các loại thuế và phí doanh nghiệp đóng góp (cả 6 dự án).
  • Giúp người dân chuyển đổi thành công sang cây trồng mới mang lại hiệu quả kinh tế cao.
  • Giải quyết được việc làm cho nhiều lao động nhàn rỗi, lao động dôi dư, đặc biệt là người khuyết tật có việc làm thường xuyên và thu nhập ổn định nhờ có việc làm tại các doanh nghiệp, góp phần công nghiệp hóa nông thôn ở địa phương. Tăng lao động ly nông nhưng không ly hương ở địa phương, góp phần phát triển kinh tế địa phương. Một số dự án đã mang lại việc làm ổn định cho một số hộ nông dân nghèo, giảm người thất nghiệp trong nông thôn, góp phần xóa đói giảm nghèo tại địa phương, giảm bớt áp lực về việc tìm kiếm việc làm cho người lao động trong lúc nông nhàn
  • Tạo nguồn thu nhập ổn định cho một bộ phận người lao động
  • Cải thiện cơ sở hạ tầng: mở đường phục vụ dân sinh, tạo nguồn nước cho phát triển, bảo vệ rừng và góp phần cải thiện nguồn nước sinh hoạt hợp vệ sinh phục vụ cho người dân quanh vùng dự án
  • Góp phần giảm nghèo nhanh và bền vững. Doanh nghiệp tư nhân DVSXTR 327 góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo của địa phương từ 12% năm 2008 xuống 9% năm 2009 và 7% năm 2010. Công ty TNHH Hiệp Thành góp phần giảm hộ nghèo từ 27% năm 2008 xuống 23% năm 2009 và 17,5% năm 2010. Doanh nghiệp Tư nhân Duy Hải góp phần giảm hộ nghèo từ 17,5% năm 2008 xuống 15,5% năm 2009 và 13% năm 2010
  • Chính quyền địa phương và cộng đồng dân cư ven biển nhận thức được tác hại của việc khai thác không có kế hoạch và tác dụng của việc phục hồi, tái tạo nguồn lợi vùng biển

 

Tác động của dự án VNCF đối với mặt xã hội của địa phương : Về mặt xã hội của địa phương, các dự án VNCF cũng có tác động tốt, thể hiện ở các mặt:

  • Việc trồng các giống cây thích hợp với điều kiện của địa phương, có năng suất cao, quy trình khép kín có tác dụng tăng năng suất; giống thủy sản quí hiếm đã tạo thêm việc làm ổn định, tạo thu nhập trong thời gian dài cho người dân nghèo vùng tộc thiểu số và miền núi tại các xã đặc biệt khó khăn có tác động tốt về mặt ý nghĩa, ý thức, tạo động lực ban đầu cho phát triển, góp phần ổn định xã hội nơi vùng dự án thực hiện, giảm áp lực hỗ trợ từ chính quyền địa phương.
  • Đào tạo nghề cho các đối tượng yếu thế (người khuyết tật, phụ nữ và người dân tộc thiểu số, v.v..). Người nghèo, nhất là phụ nữ nghèo được tiếp cận với các loại hình đào tạo, được đào tạo nghề, được trang bị kiến thức kỹ thuật, tìm được việc làm sau đào tạo đã góp phần tăng cường bình đẳng giới và nâng cao vị thế người phụ nữ. Tạo điều kiện các tổ chức xã hội như: Phụ nữ, Thanh niên, hội Nông dân hoạt động tốt hơn.
  • Xây dựng các mô hình nông nghiệp bền vững, phát triển hệ thống khuyến nông cơ sở
  • Có việc làm, thu nhập và trình độ của người nghèo được nâng lên đã góp phần giảm tệ nạn xã hội như chơi đề, cờ bạc, nghiện hút ma tuý v.v…, nhất là ở tuổi thanh niên, góp phần tác động tích cực nâng cao đời sống an sinh xã hội, ổn định xã hội ở địa phương giữ gìn trật tự xã hội, an ninh quốc phòng
  • Nâng cao nhận thức của người dân trong việc bảo vệ nguồn lợi và môi trường rừng
  • Tăng cường mối liên kết giữa doanh nghiệp với chính quyền và nhân dân địa phương (cả 6 dự án VNCF).

 

Tác động của dự án VNCF đối với môi trường, sinh thái của địa phương: Các dự án VNCF cũng có tác động tốt đối với môi trường, sinh thái của địa phương.

  • Việc sản xuất những mặt hàng thủ công mỹ nghệ, một ngành sản xuất sạch, không có ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái như: không có khói bụi, không gây ô nhiễm môi trường đất, nguồn nước, không khí; không có tiếng ồn, sử dụng rất ít than (loại nhiên liệu gây ô nhiễm môi trường), rất tốt cho môi trường sinh thái ở nông thôn
  • Cải tạo môi trường tại các địa phương có dự án VNCF, biến những vùng đồi núi nghèo kiệt thành rừng cây vừa là vùng nguyên liệu cung cấp trực tiếp cho các doanh nghiệp thực hiện dự án, vừa cải thiện môi trường sinh thái, tạo cảnh quan du lịch
  • Người nông dân đã biết áp dụng kỹ thuật vào sản xuất, quan trọng nhất là từ bỏ thói quen phun thuốc bảo vệ thực vật, phân hóa học một cách tràn lan, không sử dụng các loại thuốc có độ độc cao; biết tuân thủ thời gian phun thuốc bảo vệ thực vật, phân hóa học một cách hợp lý
  • Bảo vệ nguồn tài nguyên biển quí hiếm đang có nguy cơ cạn kiệt

 

Tác động của các dự án VNCF đối với cơ chế, chính sách: Các dự án VNCF khác cũng đều có tác động đến cơ chế, chính sách và thay đổi tư duy và phương thức quản lý của lãnh đạo chính quyền địa phương các cấp nơi có dự án, cụ thể là:

  • Giúp địa phương thực hiện tốt hơn chính sách xoá đói giảm nghèo trong nông nghiệp, nông thôn (cả 6 dự án VNCF).
  • Thay đổi tư duy và phương thức quản lý của lãnh đạo chính quyền địa phương trong lĩnh vực đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn, người nghèo và người khuyết tật; biến công tác đào tạo của doanh nghiệp thành nghị quyết và chủ trương của địa phương trong mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương

 

Đánh giá tác động của các dự án VNCF đối với đối tượng hưởng lợi trực tiếp/gián tiếp

Tác động của dự án VNCF đối với các đối tượng hưởng lợi trực tiếp : Đối với các đối tượng hưởng lợi trực tiếp, các dự án VNCF có tác động rất tốt, cụ thể là:

  • Cả 6 dự án VNCF đã tạo được 350 việc làm cho lao động trực tiếp tại các doanh nghiệp có dự án.
  • Tăng thu nhập của người lao động trung bình từ 800.000 đ/tháng đến 2.000.000 đ/tháng.
  • Giúp người nông dân chuyển đổi sang giống cây trồng, vật nuôi có hiệu quả kinh tế cao hơn.
  • Tạo việc làm ổn định cho 431 người lao động, chủ yếu là người dân tộc thiểu số và phụ nữ địa phương; tạo công ăn việc làm cho hàng trăm lao động phổ thông, con em các đồng bào dân tộc thiểu số vùng sâu vùng xa, đặc biệt là phụ nữ.
  • Thu nhập của lao động người dân tộc thiểu số ổn định, bình quân 2 triệu đồng/tháng/người, đã góp phần đáng kể trong việc giảm bớt khó khăn về kinh tế cho các hộ gia đình tại địa phương.

   

Tác động của dự án nhận tài trợ trong khuôn khổ VNCF đối với các đối tượng hưởng lợi gián tiếp:  Các dự án VNCF cũng có tác động tốt đối với các đối tưởng hưởng lợi gián tiếp, đã tạo thêm việc làm và thu nhập cho lao động nông nhàn.
   

  • Với việc tổ chức các nhóm học nghề theo cụm dân cư, hơn 700 lao động, hầu hết là nữ đã được dạy và truyền nghề thủ công mỹ nghệ theo phương thức đào tạo theo nhóm lao động phân tán tại các gia đình ở từng khu vực.
  • Doanh nghiệp cung cấp nguyên liệu và chịu trách nhiệm thu mua sản phẩm, tạo tâm lý an tâm sản xuất cho người lao động, tạo động lực tự đào tạo của người dân và phát triển thành mô hình hộ  gia đình sản xuất giỏi.
  • Tạo ra nhiều việc làm mới, ổn định và có thu nhập thường xuyên cho người lao động nông thôn những lúc nông nhàn, tạo việc làm cho hàng trăm lao động phổ thông, đặc biệt là phụ nữ. Việc làm không bị gò bó thời gian, địa điểm, người dân có thể làm bất cứ lúc nào, bất kể mùa nào, không phụ thuộc vào thời tiết. Nhờ vậy, sản phẩm có tính cạnh tranh về giá. Người lao động nông thôn thiếu việc làm, thu nhập thấp được tạo việc làm và tận dụng thời gian rảnh rỗi, góp phần xóa đói giảm nghèo, giữ gìn an ninh quốc phòng và trật tự xã hội
  • Môi trường sinh thái được cải thiện, tạo nguồn thủy sinh và vẻ đẹp cảnh quan du lịch.
  • Các đối tượng được hưởng lợi gián tiếp có cơ hội tuyển dụng được những lao động đã qua đào tạo nghề;
  • Tạo được nhiều việc làm cho người khuyết tật;
  • Các hộ dân có thêm kiến thức để sản xuất, đặc biệt trong lĩnh vực chăn nuôi, thú y; thực hiện quy trình VAC một cách hợp lý
  • Thanh niên có cơ hội học nghề và có tay nghề, có công việc ổn định, tăng thu nhập, góp phần xóa đói, giảm nghèo cho chính họ.
  • Nâng cao ý thức phục hồi, tái tạo bảo vệ nguồn lợi.

 

Tác động của dự án VNCF đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh của bản thân các doanh nghiệp: Bản thân các doanh nghiệp là các ứng viên thực hiện dự án VNCF, kết quả của dự án cũng có tác động tốt với hoạt động sản xuất, kinh doanh, đã nâng cao năng lực, hiệu quả  sản xuất - kinh doanh và quản lý của doanh nghiệp.

  • Các doanh nghiệp được tiếp cận một số khóa đào tạo nâng cao năng lực quản lý các nguồn lực, được VNCF hỗ trợ một phần tài chính phục vụ cho hoạt động sản xuất - kinh doanh, nên năng lực và hiệu quả sản xuất - kinh doanh của tất cả 6 doanh nghiệp đều được nâng cao. Doanh thu và lợi nhuận của các doanh nghiệp đều tăng so với năm trước.
  • Tạo vùng nguyên liệu để chế biến ra sản phẩm mới có giá trị kinh tế, giá trị thương mại cao hơn, tăng doanh thu, lợi nhuận cho công ty.
  • Đào tạo một đội ngũ lao động có tay nghề, có kỹ năng về kỹ thuật làm hàng thủ công mỹ nghệ đủ tiêu chuẩn xuất khẩu. Năng lực sản xuất nhiều hàng hoá được nâng cao, đáp ứng nhu cầu của thị trường, nhất là về thời gian giao hàng và chất lượng sản phẩm. Giảm bớt khâu vận chuyển hàng từ tỉnh ngoaì về. Nhờ vậy, giảm thời gian hoàn thành đơn hàng.
  • Cả 6 dự án VNCF đều đã góp phần tăng năng lực đào tạo nghề, nâng cao năng lực quản lý và điều hành của doanh nghiệp thông qua các hoạt động như xây dựng phương án kinh doanh, quản lý dự án, hệ thống theo dõi, giám sát và báo cáo định kỳ.

 

Tính bền vững của dự án VNCF sau khi kết thúc tài trợ: Nhìn chung, tính bền vững của các dự án VNCF thể hiện ở các mặt:

  • Đào tạo nghề cho người lao động, tạo việc làm ổn định.
  • Xây dựng vùng nguyên liệu ổn định phục vụ cho sản xuất và cung ứng sản phẩm cho thị trường.
  • Tiếp tục tái sử dụng nguồn lực sau khi hết nguồn tài trợ.
  • Tạo được một môi trường học nghề tốt, thực hiện môi trường đào tạo khép kín từ khâu tuyển sinh, dạy nghề cho đến khâu cuối cùng là tạo công ăn việc làm cho người lao động.

Dự án Quỹ Tiên Phong Việt Nam

Viện Phát triển Doanh nghiệp

Số 9 Đào Duy Anh, Hà Nội  E-mail: vncf@vcci.com.vn  
Tel: (844) 35772373, 35771076  Fax: (844) 35744031, 35742020

Copyright 2010 - Dự án Quỹ Tiên phong Việt Nam